Toàn cầu hóa và truyền thông mới

Sự phát triển nhanh chóng của truyền thông mới góp phần làm phong phú thêm các kênh giao tiếp giữa của con người với mạng Internet trên toàn thế giới. Ví dụ như blog, website, các trang cho phép người dùng tự “sản xuất” ra nội dung (user-generated content, viết tắt là UGC) cho phép con người chia sẻ thông tin dễ dàng hơn rất nhiều.

Terry Flew– giáo sư về truyền thông của Đại học Công nghệ Queensland, phát biểu vào năm 2002 rằng toàn cầu hóa là kết quả của những thay đổi mạnh mẽ về mặt công nghệ trong lĩnh vực truyền thông. Khái niệm toàn cầu hóa về cơ bản được hiểu là “sự mở rộng các hoạt động ra ngoài biên giới của một quốc gia”.

Carley và Caimcross miêu tả toàn cầu hóa giúp thu hẹp khoảng cánh giữa các cá nhân trên thế giới bằng các kênh giao tiếp điện tử và gọi tên cho sự thay đổi đáng kể này bằng cụm từ “sự biến mất của khoảng cách”. Truyền thông mới “phá vỡ khoảng cách về mặt địa lý và  hội, làm cho sự cách trở về địa lý ít ảnh hưởng tới các mối quan hệ xã hội của chúng ta hơn”- (Croteau và Hoynes 2003: 311).

Tuy nhiên, sự thay đổi trong môi trường truyền thông cũng đồng thời gây ra nhầm lẫn về thuật ngữ “không gian công cộng”. Theo Ingrid Volkmer, “không gian công cộng” được định nghĩa là một quá trình ở đó truyền thông công chúng được tái cấu trúc và dần trở nên tách ra khỏi các thể chế chính trị và văn hóa. Xu thế toàn cầu hóa này không đơn thuần là sự mở rộng về địa lý mà nó còn bao gồm cả những thay đổi trong quan hệ giữa công chúng, truyền thông và nhà nước. (Volkmer, 1999: 123).

Các “cộng đồng ảo” được thành lập trực tuyến và vượt qua những giới hạn về địa lý và xã hội. Howard Rheingold (2000) miêu tả “cộng đồng ảo” có tính toàn cầu, tính tự xác định đặc điểm nhận dạng , và cộng đồng này cũng mang nhiều nét tính cách tương đồng với những gì chúng ta làm trong đời sống thực hàng ngày. “Các cá nhân trong cộng đồng ảo sử dụng ngôn ngữ mã hóa với nhiều mục đích khác nhau, như để tranh luận, đưa ra quan điểm cá nhân, buôn bán, lập kế hoạch, sáng tạo, yêu đương, hận thù, v.v (trích trong cuốn Slevin (2000) của Rheingold).

Còn theo Sherry Turkle, việc sử dụng máy tính mà giúp tìm thấy cảm xúc thông qua Internet thì có thể thay thế cho mối quan hệ giữa con người với con người”. Do đó, truyền thông mới có khả năng kết nối những con người có cùng suy nghĩ trên toàn thế giới.

Trong khi những lý luận trên chỉ ra vai trò của công nghệ trong việc định hướng quá trình toàn cầu hóa thì vẫn tồn tại nhiều ý kiến phản bác cho rằng các nhân tố công nghệ đã được quy định trước bởi các điều kiện văn hóa xã hội của một quốc gia. Song, thay vì có các nghiên cứu tập trung vào các mảng như công nghệ được sử dụng, đầu tư hay nghiên cứu như thế nào, các ý kiến phàn bác cũng cho rằng một khi công nghệ được con người sử dụng thì cũng được con người cải tổ, và điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng phát triển của công nghệ về lâu về dài.

Những người không ủng hộ trường phái cho rằng công nghệ phụ thuộc vào xã hội như Castells thì lại khẳng định: “Công nghệ không quyết định xã hội. Và xã hội cũng không quy đinh được những thay đổi trong công nghệ do nhiều lý do. Thay đổi trong công nghệ có thể do những sáng tạo cá nhân, nhu cầu của các doanh nghiệp tác động nên…

Nói tóm lại, những thay đổi trong công nghệ phụ thuộc vào sự tương tác của nhiều yếu tố khác nhau.  Do đó, sự không rõ ràng này có thể minh chứng cho trường phái cho rằng công nghệ phụ thuộc xã hội không còn chính xác nữa vì xét cho cùng thì công nghệ cũng chỉ là một khía cạnh của xã hội và xã hội thì không thể tồn tại nếu không có công nghệ.

Manovich và Castells đã tranh luận rằng mặc dù truyền thông đại chúng không có gì là bất thường trong xã hội hiện tại nơi mà các giá trị phải phù hợp với lợi ích của cá nhân, truyền thông mới tuân theo logic của toàn cầu hóa khi các cá nhân tự xây dựng phong cách sống và chọn lựa cho mình phong cách riêng, tư tưởng sống riêng. Do đó, marketing hiện đại không sử dụng một chiến lược chung cho tất cả các đối tượng, mà thay vào đó chọn chiến lược “cá nhân hóa” để tiếp cận từng khách hàng khác nhau là khác nhau.

Sự phát triển nhanh chóng của truyền thông mới góp phần làm phong phú thêm các kênh giao tiếp giữa của con người với mạng Internet trên toàn thế giới. Ví dụ như blog, website, các trang cho phép người dùng tự “sản xuất” ra nội dung (user-generated content, viết tắt là UGC) cho phép con người chia sẻ thông tin dễ dàng hơn rất nhiều.

Terry Flew- giáo sư về truyền thông của Đại học Công nghệ Queensland, phát biểu vào năm 2002 rằng toàn cầu hóa là kết quả của những thay đổi mạnh mẽ về mặt công nghệ trong lĩnh vực truyền thông. Khái niệm toàn cầu hóa về cơ bản được hiểu là “sự mở rộng các hoạt động ra ngoài biên giới của một quốc gia”.

Carley và Caimcross miêu tả toàn cầu hóa giúp thu hẹp khoảng cánh giữa các cá nhân trên thế giới bằng các kênh giao tiếp điện tử và gọi tên cho sự thay đổi đáng kể này bằng cụm từ “sự biến mất của khoảng cách”. Truyền thông mới “phá vỡ khoảng cách về mặt địa lý và xã hội, làm cho sự cách trở về địa lý ít ảnh hưởng tới các mối quan hệ xã hội của chúng ta hơn”- (Croteau và Hoynes 2003: 311).

Tuy nhiên, sự thay đổi trong môi trường truyền thông cũng đồng thời gây ra nhầm lẫn về thuật ngữ “không gian công cộng”. Theo Ingrid Volkmer, “không gian công cộng” được định nghĩa là một quá trình ở đó truyền thông công chúng được tái cấu trúc và dần trở nên tách ra khỏi các thể chế chính trị và văn hóa. Xu thế toàn cầu hóa này không đơn thuần là sự mở rộng về địa lý mà nó còn bao gồm cả những thay đổi trong quan hệ giữa công chúng, truyền thông và nhà nước. (Volkmer, 1999: 123).

Các “cộng đồng ảo” được thành lập trực tuyến và vượt qua những giới hạn về địa lý và xã hội. Howard Rheingold (2000) miêu tả “cộng đồng ảo” có tính toàn cầu, tính tự xác định đặc điểm nhận dạng , và cộng đồng này cũng mang nhiều nét tính cách tương đồng với những gì chúng ta làm trong đời sống thực hàng ngày. “Các cá nhân trong cộng đồng ảo sử dụng ngôn ngữ mã hóa với nhiều mục đích khác nhau, như để tranh luận, đưa ra quan điểm cá nhân, buôn bán, lập kế hoạch, sáng tạo, yêu đương, hận thù, v.v (trích trong cuốn Slevin (2000) của Rheingold).

Còn theo Sherry Turkle, việc sử dụng máy tính mà giúp tìm thấy cảm xúc thông qua Internet thì có thể thay thế cho mối quan hệ giữa con người với con người”. Do đó, truyền thông mới có khả năng kết nối những con người có cùng suy nghĩ trên toàn thế giới.

Trong khi những lý luận trên chỉ ra vai trò của công nghệ trong việc định hướng quá trình toàn cầu hóa thì vẫn tồn tại nhiều ý kiến phản bác cho rằng các nhân tố công nghệ đã được quy định trước bởi các điều kiện văn hóa xã hội của một quốc gia. Song, thay vì có các nghiên cứu tập trung vào các mảng như công nghệ được sử dụng, đầu tư hay nghiên cứu như thế nào, các ý kiến phàn bác cũng cho rằng một khi công nghệ được con người sử dụng thì cũng được con người cải tổ, và điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng phát triển của công nghệ về lâu về dài.

Những người không ủng hộ trường phái cho rằng công nghệ phụ thuộc vào xã hội như Castells thì lại khẳng định: “Công nghệ không quyết định xã hội. Và xã hội cũng không quy đinh được những thay đổi trong công nghệ do nhiều lý do. Thay đổi trong công nghệ có thể do những sáng tạo cá nhân, nhu cầu của các doanh nghiệp tác động nên…

Nói tóm lại, những thay đổi trong công nghệ phụ thuộc vào sự tương tác của nhiều yếu tố khác nhau.  Do đó, sự không rõ ràng này có thể minh chứng cho trường phái cho rằng công nghệ phụ thuộc xã hội không còn chính xác nữa vì xét cho cùng thì công nghệ cũng chỉ là một khía cạnh của xã hội và xã hội thì không thể tồn tại nếu không có công nghệ.

Manovich và Castells đã tranh luận rằng mặc dù truyền thông đại chúng không có gì là bất thường trong xã hội hiện tại nơi mà các giá trị phải phù hợp với lợi ích của cá nhân, truyền thông mới tuân theo logic của toàn cầu hóa khi các cá nhân tự xây dựng phong cách sống và chọn lựa cho mình phong cách riêng, tư tưởng sống riêng. Do đó, marketing hiện đại không sử dụng một chiến lược chung cho tất cả các đối tượng, mà thay vào đó chọn chiến lược “cá nhân hóa” để tiếp cận từng khách hàng khác nhau là khác nhau.

Truyền thông mới – công cụ thay đổi xã hội

Phong trào cách mạng truyền thông xã hội có một lịch sử lâu dài và phong phú, phát triển nhanh chóng kể từ khi các công cụ truyền thông mới được sử dụng rộng rãi. Quân đội giải phóng dân tộc Zapatista của Chiapas, Mexico đã đi những bước đầu tiên trong việc sử dụng rộng rãi và hiệu quả các phương tiện truyền thông mới để phát thông cáo và tổ chức hoạt động vào năm 1994. Kể từ đó, các phương tiện truyền thông mới được các phong trào xã hội sử dụng mạnh mẽ để giáo dục, tổ chức, chia sẻ sản phẩm văn hóa, trao đổi, liên kết tìm kiếm đồng minh và hơn thế nữa. Hoạt động phản đối Hội nghị Bộ trưởng của WTO năm 1999 là một bước ngoặt khác trong công cuộc thay đổi xã hội dựa trên các công cụ truyền thông mới. Những người tổ chức biểu tình đã sử dụng truyền thông để kêu gọi, liên lạc và hướng dẫn cho những người tham gia. Hãng thông tấn Indymedia cũng có đóng góp cho sự phát triển của cuộc cách mạng này, trở thành một công cụ hữu ích trong việc dân chủ hóa thông tin – một khía cạnh được thảo luận rộng rãi của phong trào truyền thông mới.

Một số học giả thậm chí coi dân chủ hóa là dấu hiệu cho sự khai sinh của một “mô hình xã hội – kỹ thuật cấp tiến , thách thức lại các mô hình dựa trên công nghệ và tự do kiểu mới đang thống trị công nghệ thông tin và truyền thông.”  Một quan điểm ít cực đoan hơn cho rằng con người đang sử dụng Internet để tạo ra sự toàn cầu hóa có sức tác động đến mọi cơ sở tập trung vào yếu tố con người hơn là dòng vốn, điều này đi ngược lại với chủ nghĩa tự do mới.

Mặc dù vậy, những hoài nghi về vai trò của phương tiện truyền thông mới trong các phong trào xã hội là không thể tránh khỏi.Nhiều học giả chỉ ra rằng sự bất bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin đã cản trở các phong trào phát triển trên diện rộng, thậm chí đôi khi gây áp lực nặng nề cho một bộ phận tham gia phong trào.

Một số khác lại nghi ngờ về tính dân chủ và tác dụng của nó trong các phong trào xã hội. Nhìn chung, vẫn còn khá nhiều khía cạnh của công nghệ truyền thông mới hay còn gọi là “công cụ của sự thay đổi” theo như quan điểm của các nhà hoạt động xã hội, chưa được giới hàn lâm thảo luận và đưa ra kết luận chính xác.

Các phương tiện truyền thông mới đóng một vai trò tích cực trong những phong trào xã hội ít cực đoan hơn như Chiến dịch Free hugs (ôm tự do). Việc sử dụng các trang web, blog và video trực tuyến đã chứng minh được sự thành công của phong trào. Cùng với ví dụ trên, việc sử dụng các blog có lượng truy cập lớn đã giúp việc truyền thông tin hiệu quả hơn, thu hút được nhiều hơn sự quan tâm của công chúng. Một ví dụ khác là về chiến dịch “Tự do cho Tây Tạng”. Thông tin về chiến dịch xuất hiện trên rất nhiều trang web, và đặc biệt chiến dịch kết hợp với ban nhạc Gorillaz. Trong clip Gorillaz Bitez xuất hiện hình ảnh trưởng nhóm nhạc ngồi giữa những người biểu tình cho chiến dịch. Một bước tiến khác của cuộc cách mạng truyền thông xã hội được thể hiện qua những xu hướng thời trang và sự nổi lên của những phong cách văn hóa vùng miền như Text Speak, Cyberpunk và rất nhiều xu hướng khác.

 

Truyền thông mới trong xã hội Hoa Kỳ là:

  1. Công dân có thể hưởng nhiều lợi ích do truyền thông mới đem lại, có thể chia sẻ và đưa ra ý kiến theo đúng định hướng của Chính phủ.
  2. Đối với Chính phủ, truyền thông mới cho phép họ có cơ hội gây dựng được tên tuổi, thành công cũng như là quan điểm vào suy nghĩ của toàn thể nhân dân.
  3. Sự tín nhiệm đối với truyền thông mới và sự định hướng từ Chính phủ và từ  các tổ chức sẽ giảm thiểu chi phí cho các chương trình mới.
  4. Truyền thông mới có ý nghĩa đối với nhiều cơ quan bên cạnh báo chí thông qua các video tweet ( twitter) …
  5. Truyền thông mới nên nằm trong mối quan hệ chặt chẽ với các ý tưởng mới về chi phí cũng như cấu trúc của truyền thông bao gồm những tài khoản mã hóa, tài khoản bảo mật, tìm kiếm dữ liệu, nâng cấp cơ sở vật chất, thư tín, phân vùng địa lý, giao thông, điện thoại gọi tự động…
  6. Khả năng tiếp cận công nghệ của người Mỹ được ước tính như sau:  truyền thông mới thu hút sự quan tâm lớn của 20% dân số, 60% dân số quan tâm ít hơn trong khi 20% còn lại không hề quan tâm. Điều này gợi mở một yêu cầu cần phải cân bằng các nguồn lực để đảm bảo khả năng tiếp cận công bằng cho mọi công dân.

Để thu hút nhiều người quan tâm hơn đến truyền thông, cần lưu ý rằng:

  • Người Mỹ thích xem tivi và nhận các cuộc gọi điện thoại. Vì thế truyền thông mới cần cho phép Chính phủ giao tiếp thông qua hệ thống tivi và hệ thống các cuộc gọi tự động. Hơn thế nữa, người Mỹ có xu hướng thích nhận thông điệp từ Chính phủ qua thiệp chúc mừng gửi trực tiếp tới hòm thư của gia đình, hoặc qua các tấm poster  được đăng trong khu vực họ sống
  1. Làm sao khuyến khích trẻ nhỏ ăn rau tích cực hơn?
  • Sử dụng truyền thông mới để nói về lợi ích của rau xanh.
  1. Các công cụ truyền thông cần được chỉnh sửa phù hợp khi dùng trong các cơ quan Chính phủ, hoặc vì lý do pháp lý hoặc nhằm loại trừ các quảng cáo mang mục đích thương mại.
  2. Một số câu hỏi mở và lời bình:
  • Tạo ra một mạng xã hội rộng lớn cần nhiều thời gian. Đây vừa là cơ hội vừa là thách thức cho Chính phủ. Đây chính là điểm mà đảng Dân chủ và Cộng hòa cần ý thức để đi sâu đi sát hơn các hoạt động của cử tri đăng ký trong tiểu bang. Trên cơ sở giữ được liên lạc thường xuyên với cử tri, cơ hội tái đắc cử của các đảng này vì thế cũng cao hơn.
  • Chính phủ có nên thực hiện một tuyên bố hạn chế sử dụng một vài thông tin (danh sách) của các cử tri? Ví dụ như quy định về quyền riêng tư nên như thế nào? Tăng thu nhập bằng cách sử dụng danh sách cử tri thì làm sao?

 

An ninh quốc gia

Truyền thông mới gần đây bị biến thành công cụ phục vụ cho các cộng đồng hoạt động gián điệp toàn cầu. Rất dễ để truy cập các dữ liệu được số hóa, và các dữ liệu này sau đó nhanh chóng được thu thập bởi Chính phủ nhiều quốc gia.

Ví dụ điển hình là hai trang mạng xã hội lớn Facebook và Twitter. Hai trang này cho phép người dùng công khai thông tin cá nhân. Những thông tin này sau đó được sang lọc, lưu trữ rồi tạo ra các hồ sơ tự động về từng cá nhân phục vụ cho lợi ích của đối tượng quan tâm tới những thông tin này.

Tính tương tác và truyền thông mới

Tính tương tác đã trở thành một thuật ngữ quen thuộc trong rất nhiều phương thức truyền thông mới xuất phát từ sự gia tăng nhanh chóng các điểm truy cập Internet cũng như việc số hóa các phương thức truyền thông và sự hợp nhất của các hình thức truyền thông.

Vào năm 1984, Rice định nghĩa truyền thông mới là công nghệ giao tiếp cho phép nâng cao tính tương tác giữa những người dùng với nhau và giữa người dùng với thông tin. Định nghĩa của Rice đã thay thế khái niệm tương tác một chiều thường thấy ở truyền thông truyền thống (nghĩa là người dùng tiếp nhận thông tin và không có kênh để phản hồi lại thông tin đó) bằng khái niệm tương tác nhiều chiều ở truyền thông mới (nghĩa là người dùng tiếp nhận thông tin và phản hồi lại thông tin đó, hoặc hai người dùng trao đổi thông tin qua lại với nhau có tính hai chiều ).

Ngày nay, bất kì cá nhân nào với trình độ công nghệ phù hợp đều có thể tạo ra những sản phẩm truyền thông trực tuyến bao gồm hình ảnh, văn bản và âm thanh. Vì thế, sự hợp nhất các hình thức truyền thông mới kết hợp với sự phát triển của công nghệ kỹ thuật đã góp phần chuyển đổi hình thức truyền thông đại chúng lên một tầm mới , và thay đổi một cách sâu sắc cách chúng ta tương tác, giao tiếp với nhau.

Trong tác phẩm “Truyền thông mới là gì?” Vin Crosbie đã mô tả 3 hình thức giao tiếp khác nhau  trong truyền thông bao gồm : Truyền thông cá nhân là tương tác có tính 1:1, truyền thông đại chúng là hình thức giao tiếp đơn phương “one to many”, và cuối cùng là truyền thông mới hay còn gọi là truyền thông được cá nhân hóa là kênh giao tiếp đa phương “many to many”.

Khi đề cập đến tính tương tác, chúng ta thường cho rằng đó là điểm nổi bật trong các cuộc hội thoại trực tiếp. Chính sự hạn chế trong quan điểm về khái niệm này đã không cho phép chúng ta nhận thấy sự tồn tại của tính tương tác khi chúng ta tham gia vào các diễn đàn trên mạng.

Tính tương tác cũng xuất hiện trong các chương trình cần lập trình như các trò chơi video. Thậm chí nó cũng hiện diện trong cả truyền thông truyền thống. Trong những năm 90 của thế kỉ 20 , những nhà làm phim bắt đầu sử dụng những máy quay giá rẻ để sản xuất phim. Đây cũng là thời kì công nghệ ảnh động có những bước tiến đầu tiên. Sự phát triển của công cụ này đã mang lại cho các nghệ sỹ một cách thức mới để chia sẻ các sản phẩm của họ và giao lưu với thế giới rộng lớn bên ngoài. Những hình thức khác của tương tác bao gồm các buổi trò chuyện trên truyền hình, viết thư đến người viết bài hay sự tham gia của khán giả vào các chương trình.

Tương tác đa truyền thông đã thực sự mang lại lợi ích  cho tất cả mọi người vì họ có thể trình bày tác phẩm của mình dưới nhiều hình thức khác nhau nhờ sự giúp đỡ của công nghệ , và đặc biệt trong tương lai họ sẽ không gặp bất cứ giới hạn nào cho các ý tưởng sáng tạo.

Tính tương tác cũng có thể được xem là khái niệm quan trọng nhất về truyền thông mới.Tuy nhiên, những hình thức truyền thông khác nhau có những mức độ tương tác khác nhau và thậm chí có một số phương thức truyền thông được số hóa và hợp nhất không hề có tính tương tác. Theo Tony Feldman,xem truyền hình qua vệ tinh là một ví dụ điển hình. Đây là một sản phẩm số nâng cao số lượng kênh truyền hình và đã thay đổi một cách tương đối bản chất nội dung được cung cấp qua dịch vụ, nhưng nó không tiếp thu được các ý kiến của người xem. Vì thế, có thể nói rằng tính tương tác không phải là một đặc tính rõ ràng của công nghệ truyền thông mới.

Trong nghiên cứu năm 2005, Terry Flew cho  rằng “công nghiệp trò chơi tương tác là rất lớn, đang phát triển và đi đầu hầu hết các sáng kiến về truyền thông mới”. Tính tương tác rất nổi bật trong các trò chơi điện tử như World of Warcraft, the Sims online hay Second life. Những trò chơi như thế này đã cho phép người chơi thiết lập các mối quan hệ và trải nghiệm cảm giác thuộc về những vùng miền khác nhau thậm chí nằm ngoài biên giới nơi họ cư trú (vì người chơi đăng nhập từ nhiều nơi khác nhau trên thế giới). Những trò chơi đó đôi khi còn là sự chạy trốn khỏi thực tại mà người chơi đang sống. Will Wright- người sáng lập ra the Sims cho rằng “trò chơi của ông rất thú vị. Một số game thủ đã quá gắn bó với nó và xem đó như là cuộc sống thực của mình”.

Truyền thông mới đã tạo ra một thế giới ảo và trở thành một phần mở rộng của cuộc sống thường ngày. Với sự ra đời trước đó của Second Life và Active World, chúng ta đang trở nên gần gũi hơn với thế giới ảo- một thế giới mà mọi thứ người chơi nghĩ tới đều có thể sẽ thành hiện thực.

Truyền thông mới thay đổi liên tục và luôn luôn được tái sửa đổi, tái định nghĩa lại bởi những bước tiến về công nghệ cũng như những thay đổi về văn hóa.

Nền công nghiệp truyền thông mới

Nền công nghiệp truyền thông mới đã mở ra cơ hội hợp tác giữa nhiều lĩnh vực trong thị trường như thiết kế trò chơi, phần mềm; truyền hình, phát thanh và đặc biệt là phim ảnh, quảng cáo. Thông qua đó các công ty trong lĩnh vực này tìm được lợi nhuận từ các kênh đối thoại có tính hai chiều với khách hàng trên mạng Internet.

Sự phát triển của truyền thông mới đã mang lợi nhuận lớn về cho ngành công nghiệp quảng cáo, đặc biệt đối với các công ty quảng cáo lớn quản lý các công ty con hàng triệu- đôla. Các website có tính tương tác trở nên ngày càng phổ biến hơn.

Nhiều công ty quảng cáo thậm chí đã mở các phòng ban chuyên nghiên cứu về truyền thông. Các công ty về quan hệ công chúng cũng đang nắm cơ hội trong thế giới truyền thông hiện đại thông qua hình thức PR tương tác. (PR tương tác bao gồm việc sử dụng mạng xã hội để tiếp cận với người sử dụng mạng xã hội (cũng là khách hàng tiềm năng).

Comments

comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>

Facebook